Thứ Bảy, 12 tháng 12, 2015

Lưu một bài cũ: Về ngụy biện hối lộ trên đất Phật

https://www.facebook.com/photo.php?fbid=716920411654095&set=a.123338584345617.19846.100000084275576&type=3&ref=notif&notif_t=like

Sáng giờ về quê đám cưới, thấy loáng thoáng chuyện bác Tổng so sánh nạn tham nhũng ở ta với chuyện : “Đến Đường Tăng đi lấy kinh cũng phải hối lộ, bước chân sang nước Phật đã phải hối lộ nên chúng ta phải xem xét, tỉnh táo, sáng suốt"... Muốn nhỏ nhẹ phân tích cho bác ấy rõ nói như thế là không đúng với tinh thần Phật pháp nhưng giờ mới ngồi vào viết được. Chắc chuyện cũng chưa nguôi. Mà chuyện này thì sao nguội được.

Rõ ràng ai cũng thấy đây là một ngụy biện, một phép ngụy biện so sánh hình thức còn nội dung thì khác hẳn. (Quên là loại ngụy biện gì, ai nhớ nhắc giùm).
1/ Thứ nhất, đây là chuyện ... xảy ra trong tiểu thuyết của Ngô Thừa Ân, do Ngô Thừa Ân hư cấu sau chuyện Đường Tam Tang sang Tây Trúch thỉnh kinh cả ngàn năm; tức nó chỉ có trong đầu của Ngô Thừa Ân chứ không ai chắc nó có xảy ra thật hay không . Nay bác nói như nó xảy ra thật đúng như vậy để bảo biện cho chuyện tham nhũng là một quy luật khách quan tất yếu của mọi xã hội thì rõ ràng là không ổn. Không thể một quốc nạn lớn như tham nhũng lại dựa vào "sự thật" từ ông Ngô Thừa Ân nào đó để bảo nó là quốc nạn hay không phải quốc nạn, phải không bác?
2/ Mà tỉ dụ như chuyện đó là có thật, Ngô Thừa Ân có phép đi vào đất Phật để thấy chuyện đó xảy ra mười mươi, thì còn có nhiều cách hiểu nữa chứ không thô thiển cách hiểu mô tả hiện thực như bác thấy. Con đường đi thỉnh kinh là con đường gian nan, và theo nhân duyên đã định thì Đường Tăng phải chịu đủ 72 kiếp nạn, chuyện phải trả một thứ gì đó mới được kinh cũng là một kiếp nạn mà Đường Tăng phải chịu. Và thực ra thì Ngô Thừa Ân cũng đã nói rõ, thứ kinh mà lấy tiền đổi được đó là kinh hạng xoàng, sau kiếp nạn đó thì Đường Tăng và các học trò mới nhận được chân kinh. Và kinh này là không có tiền nào mua đổi được.
3/ Mà cứ cho rằng đất Phật cũng có tham nhũng, đất Mỹ đất Singapore, hay Hà Lan, Phần Lan dẫn đầu về chính phủ trong sạch vẫn cứ có tham nhũng thì em nghĩ cũng không vì thế mà bác nói rằng "bước chân sang nước Phật đã phải hối lộ nên chúng ta phải xem xét" như là một sự thật khách quan thì em thấy không ổn. Có một sự thật là tham nhũng ở bất cứ đâu, ở đất Phật hay ở bất cứ quốc gia nào, thì tham nhũng cũng bị lên án và bất ai có ý định tham nhũng cũng là đều trong tư thế sẵn sàng đánh đổi sinh mạng mình, không chỉ là sinh mạng chính trị mà đó có thể là án tử; tham nhũng bị lên án và người tham những phải luôn luôn trong trạng thái sợ hãi, giấu diếm hành vi đến mức có thể. Nay bác nói thế, coi như gián tiếp tham nhũng được công khai thừa nhận rồi, bọn tham nhũng không thấy sợ gì nữa rồi, nó như một phần cuộc sống mà; Ôi, dân đen bọn em còn biết cậy nhờ vào đâu được nữa đây!
---------
Bác rảnh xin tham khảo thêm bài này:
http://thuvienhoasen.org/…/tac-hai-cua-tay-du-ky-cu-si-tue-…
Và nếu ít thời gian thì đọc một ý kiến này của thầy Thích Nhật Từ cũng được:
Chúng tôi xin lược trích ý kiến của thày Thích Nhật Từ, chủ biên thư viện điện tử Đạo Phật Ngày Nay như sau:
"... Theo Tây Du Ký thì chính Phật Tổ Như Lai và Bồ-tát Quán Thế Âm đã bắt giam Tôn dưới chân núi Ngũ Hành ngót 500 năm dài và cũng chính Phật Tổ Như Lai và Bồ-tát Quán Thế Âm một lần nữa tạo ra 81 nạn cho 4 thầy trò Ðường Tăng, để rồi dẫn đến kết thúc của tác phẩm chẳng có nghĩa lý gì: ‘’Như Lai là người chủ mưu cuộc hối lộ cái "bát vàng" trước khi giao chân kinh có chữ về Ðông Thổ’’.
Trong truyện Tây Du Ký, Phật Tổ Như Lai chủ mưu cuộc hối lộ bằng cách "ném đá dấu tay," ra lệnh cho hai tôn giả Ca-diếp và A-nan-đà, những vị thánh tăng hàng đầu trong hàng đệ tử Phật, đòi "quà thông cảm" với bốn thầy trò Ðường Tăng. Ðiều đó đã làm cho ba vị đồ đệ cương trực của Ðường Tăng bất bình. Nhưng vì thấy tôn giả Ca-diếp và A-nan-đà "xuống nước nhỏ" (nhưng thật chất là đánh lừa), cả ba vị đã hỷ xả mà không làm lớn chuyện! Bốn thầy trò tưởng mọi việc êm xuôi, hớn hở đem kinh về. Gần về đến Ðại Ðường thì bổng đâu chim Ðại Bàng của Phật Di-lặc cướp bay lên không, rồi sau đó bỏ xuống đất. Lúc đó, thầy trò Ðường Tăng mới vỡ lẽ ra là kinh mà họ khổ công mang về là "kinh vô tự."
Cái gút "kinh vô tự và kinh hữu tự" mà tác giả dựng lên không mang dụng ý thiền học như nhiều người đã cố tình lý giải. Thật ra, nó nhằm tạo ra thái độ căm phẫn của độc giả đối với đức Phật và Bồ-tát, thông qua đó, bôi bác, xuyên tạc Phật giáo. Tôi cho rằng Ngô Thừa Ân đã xúc phạm một cách trịch thượng đến đức Phật, các vị Bồ-tát và các vị thánh tăng. Những điều gì mà đức Phật khuyên người ta nên từ bỏ, xa lìa thì Ngô Thừa Ân lại đem những cái đó gán lên đức Phật".
Trên đây là ý kiến của thày Thích Nhật Từ, chủ biên thư viện điện tử Đạo
Phật Ngày Nay

Thứ Bảy, 31 tháng 1, 2015

Cuộc truy tìm nguồn gốc người Việt lần thứ ba.
Hồ Trung Tú

Mặc sự công nhận chính thức về cội nguồn người Việt của giới khoa học chính thống, cuộc truy tìm nguồn gốc người Việt của các nhà nghiên cứu nghiệp dư vẫn lặng lẽ và đang ngày càng tỏ ra quyết liệt với những quan điểm mới, nhiều khi cực đoan, nhưng không phải không có lý, và tất cả hé lộ cho thấy quả thật còn rất nhiều chuyện phải làm trong định nghĩa thế nào là nguồn gốc người Việt.

Truy tìm nguồn gốc người Việt ngỡ như đã xong bỗng gần đây được xới lên, nhất là trên không gian mạng, nơi có điều kiện bày tỏ quan điểm một cách khá bình đẳng, không phân biệt là chuyên gia hay người bình thường, giáo sư, tiến sĩ sử học hoặc là sinh viên học sinh yêu môn sử. Theo dõi những cuộc trao đổi này chúng tôi chợt nhận ra vẫn còn những câu hỏi vô cùng lớn về nguồn gốc người Việt chưa được giải đáp.

Thứ Sáu, 5 tháng 9, 2014

Mua sách "CÓ 500 NĂM NHƯ THẾ" ở nước ngoài qua Amazon


5 Tháng 9 2014 lúc 9:43



Link : http://www.amazon.com/dp/B00N426FB4

Trích phần Dẫn nhâp: "Lịch sử Nam tiến của người Việt Namtrải dài suốt từ thời nhà Lý đến các vua Nguyễn; các năm 1306, 1471 thường đượcnhắc tới như chỉ là những cột mốc đánh dấu cái dòng chảy rất đều, không ngừngnghỉ của các đoàn người Nam tiến. Thực ra nếu nhìn kỹ vào từng giai đoạn ta sẽthấy cái dòng chảy ấy không đều như đã nghĩ. Nó có những lúc dữ dội để chiếmhữu, lúc lắng lại để định hình, lúc thì nếp ăn nếp ở ngôn ngữ phong tục thiênvề Chàm, lúc thì chuyển hẳn sang Việt. Ở đây chúng tôi xin đưa ra một cách phânkỳ để thử xác định ý nghĩa và dấu ấn của mỗi giai đoạn mà nó để lại trên mỗitiến trình lịch sử, qua đó có thể ít nhiều hiểu được, và thử dựng lại những gìđã xảy ra trong suốt 500 năm (1306 đám cưới Huyền Trân đến 1802 khi Gia Longlên ngôi) dài dằng dặc ấy.Ví dụ như giai đoạn lịch sử này,quan hệ Việt - Chàm có điều gì đó rất lạ, nó vừa thân thiết như người nhà lạivừa dữ dội như hai kẻ thù không đội trời chung: Năm 1370, sau cuộc loạn DươngNhật Lệ, mẹ Nhật Lệ trốn sang Chiêm Thành, bày tỏ tình hình suy yếu của nướcĐại Việt và xui Chế Bồng Nga sang đánh Việt. Thế nhưng chỉ sau đó vài năm,1390, khi Chế Bồng Nga chết ngay trên chiến thuyền khi tiến đánh Đại Việt, conChế Bồng Nga là Chế Ma Nô Đà Nan bị La Khảicướp ngôi đã sang Việt cầu cứu. Phong Chế Ma Nô Đà Nanlàm Hiệu chính hầu. Đến 1407, khi nhà Minh bắt được Hồ Quý Lý, Chiêm Thành cấtquân thu lại đất cũ, dân di cư (Việt vào dưới thời Hồ) sợ chạy tan cả[1], cáctướng lĩnh Đại Việt như Hối Khanh Nguyễn Rỗ đều bỏ chạy cả, chỉ một mình Ma NôĐà Nan chống nhau với Chiêm Thành, thế cô sức núng, bị người Chiêm giết chết! Trớ trêu thay, đây lại là con của Chế BồngNga! Làm sao để hiểu hiện tượng này?
Quan hệ Việt - Chàm giai đoạn nàyquả thật có điều gì đó rất lạ, không giống như ta thường hình dung rạch ròiđịch ta lâu nay! Đó là tầng lớp chính trị, tầng lớp mà ý thức dân tộc, tự hàodân tộc của họ thường mạnh mẽ, thế nhưng ở đây hình như khái niệm dân tộc khôngcòn rạch ròi như ta vẫn thường hình dung. Phải chăng ở mức độ nào đó các kháiniệm Chàm - Việt khá là gần gũi chứ không phải chỉ có ta địch? Vậy ở tầng lớp bìnhdân, nhân dân lao động không quan tâm mấy đến chính trị thì sao? Hẳn các tộcngười, các làng Việt - Chàm ở cạnh nhau cũng không phải là điều gì không thểxảy ra.
Trong tâm thức nhiều người đây như một vùng đất không ngườiở, mờ nhạt trên mặt đất là những con đường mòn cũ, ai đó đã đi qua và tạo nênhọ cũng không buồn bận tâm. Trên con đường ấy thỉnh thoảng có vài lưỡi cuốc,lưỡi cày, vài từ ngữ rơi vãi được người Việt đến nhặt lên và sử dụng. Và họ gọiđó là tiếp thu văn hóa! Tất cả chỉ có vậy, không hơn không kém! Hình tượng nàyđã đến lúc cần được thay đổi, trên con đường ấy không phải chỉ có một ngườibước đi mà đã có ít nhất hai người lữ hành cùng bước bên nhau suốt 500 năm dàiđăng đẵng.
Đã từng có lúc họ âm mưu triệt tiêu nhau, như không thể độitrời chung, nhưng cũng có lúc choàng vai nhau mà đi, giúp nhau từng bát cơm,hạt muối lúc gian nan, lúc binh đao cũng như lúc bão lũ; lúc thì người này chegiấu người kia nhưng cũng có lúc người kia chịu hiểm nguy để đứng lên bảo vệngười này khỏi những cuộc truy sát. “Tộiđồ của ta chúng hết thảy bao dung” (Chiếu bình Chiêm), nhưng con trai củaChế Bồng Nga cũng sẵn sàng hy sinh cho Đại Việt khi các tướng Đại Việt đã bỏchạy cả! Họ đã từng cãi nhau rằng tau mới là văn minh còn mi là mọi rợ! Nhưnghọ cũng đã từng gả con cái cho nhau, từng ngồi mâm cơm sui, từng chung một độinhạc đưa linh, từng cùng nhau giữ gìn bờ cõi chống kẻ thù chung; hết lớp chađến lớp con. 500 năm là bao nhiêu đời? Những đứa trẻ đã chơi cùng nhau trêncùng cánh đồng, bơi bên nhau trên cùng dòng sông, thả trâu trên cùng một vạt cỏlàng; cùng chơi chung nhưng cũng cùng đánh nhau, cùng bảo “tau đi đường ni có bông có hoa, mi đi đường nớ có ma đứng đàng”...Điều lý thú là suốt 20 thế hệ như vậy nhưng nếp nhà ai thì nhà nấy giữ; khácnhau mà không phủ định nhau, mỗi người một vẻ đẹp, nếu có hơn có kém thì một đãmất đi trong vài thế hệ chứ sao kéo dài được 500 năm không mai một?
Chặng cuối con đường đó không phải chỉ còn lại một người màvì nhiều lý do khiến cả hai đã nhập vào làm một. Chỉ một điều đáng tiếc là concháu họ lại cứ đinh ninh rằng cuộc hành trình đó chỉ có một, mà không hay rằngđang tự làm nghèo mình đi, đó là chưa nói đã vô tình mà có lỗi rất nhiều vớiông bà tổ tiên mà không hay không biết!
Sự thật này là khắc nghiệt nhưng cần phải nhìn thẳng vào nóvà nói lên bằng những lời rõ ràng nhất! Sự tự hào về nền văn hóa Việt khôngngăn cản ta tự hào với bất cứ gốc gác nào đã góp phần tạo nên sự tự hào đó. Đólà chưa nói khái niệm mà ta gọi là Việt đó cũng là một sự tổng hòa của rấtnhiều các nền văn hóa của các cộng đồng cư dân sống trên dải đất nầy suốt nhiềungàn năm qua. Bà Trương nói ngôn ngữ gì? Và đến Bà Triệu thì ngôn ngữ đã giốngngày nay chưa hay vẫn cứ xa lạ ta không thể hiểu nếu bà sống lại? Cũng vậy, ởmiền Trung sự hình thành bản sắc đã diễn ra muộn hơn nhưng chính nhờ vậy lạicho ta một hình dung về sự hình thành bản sắc dân tộc Việt trong quá trình vachạm với các nền văn hóa khác nhau. Ở Bắc bộ hơn ngàn năm trước, trong thời kỳBắc thuộc dài suốt 1.000 năm, chắc hẳn cũng đã diễn ra một quá trình như vậy,các cộng đồng người, các bản sắc văn hóa , ngôn ngữ đã cùng sống cạnh nhau màtạo thành một bản sắc Việt như ta thấy hôm nay.
Tiếc là suốt những năm dài dưới góc nhìn đầy thiên kiến củacác nhà nho phong kiến sự tự hào đã đi theo con đường phủ nhận, khinh miệt vàkhông thừa nhận bất cứ cái gì khác mình. Và đến nay những chuẩn mực này xem ravẫn chưa thôi ảnh hưởng đến quan điểm của nhiều người. Ai là Chàm thì Chàmnhưng dòng họ ta dứt khoát là Việt, gia phả đã chứng mình điều đó! Tiếc thay,cần phải nói thật rằng phần lớn gia phả đều bất khả tin! Và vấn đề không phảichỉ cần được nhìn nhận một cách khoa học hơn mà chính là cần có một lăng kínhkhác, góc nhìn khác.
"

Ai mua trong nước, với giá bìa, xin liên hệ trực tiếp với tác giả qua e-mail.

Thứ Hai, 20 tháng 1, 2014

Tổng hợp các sự kiện tưởng niệm ngày mất Hoàng Sa ở Đà Nẵng

Để ghi dấu 40 năm ngày Trung Quốc dùng vũ lực cưỡng chiếm trái phép quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam (19/01/1974-19/01/2014), Uỷ ban nhân dân huyện Hoàng Sa, thành phố Đà Nẵng phối hợp các cơ quan có liên quan tổ chức chuỗi các hoạt động tuyên truyền, khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa, trong đó có 3 nội dung chính là:

1/ Chương trình ca nhạc hát về biển, đảo quê hương và Lễ thắp nến tri ân Hướng về Hoàng Sa vào lúc 19h00 ngày 18/01/2014 tại Công viên Biển Đông.
2/ Triển lãm “Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam - Những bằng chứng lịch sử” từ ngày 19 đến 25/01/2014 tại Bảo tàng Đà Nẵng, số 24 đường Trần Phú, Đà Nẵng (phối hợp Bộ Thông tin và Truyền thông).
3/. Hội thảo “Chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa” vào lúc 13h00 ngày 19/01/2014 tại Khách sạn Hoàng Sa, số 35 - Dương Đình Nghệ, Sơn Trà, Đà Nẵng (phối hợp Hội Khoa học lịch sử Đà Nẵng). 

Chương trình 1 đã bị hoãn hoàn toàn. 2 chương trình còn lại vẫn được tổ chức nhưng xem như một sinh hoạt nội bộ, không quản bá rộng rãi và các báo không được đưa tin. Sau đây là ghi nhận của chúng tôi và các đồng nghiệp báo chí với các thông tin trên Facebook và các block.


Chương trình ca nhạc hát về biển, đảo quê hương và Lễ thắp nến tri ân Hướng về Hoàng Sa mặc dù bị hủy nhưng người dân quanh khu vực công viên biển đông vẫn lặng lẽ tổ chức theo cách của mình là cắm cờ dùng trong các trường hợp lễ tang để tưởng nhớ các anh hùng liệt sĩ đã hy sinh khi bảo vệ Hoàng sa vào ngày 19/1 năm 1974. 


Và đây là lần đầu tiên sau 40 năm những nén hướng đã được thắp lên, những phẩm vật cũng được dâng cúng hướng đến vong linh những người vì tổ quốc mà hy sinh thân mình. 


Ở buổi lễ khai mạc triển lãm về Hoàng Sa tại bảo tàng Đà Nẵng các báo vẫn không được đưa tin nhưng nhiều nhà báo vẫn đến dự, lặng lẽ chụp hình và ghi lại những khoảnh khắc thật cảm động. Trên Fb của mình nhà báo Hồ Tấn Vũ chép: Không ai cầm được nước mắt khi chủ tịch huyện Hoàng Sa, Đặng Công Ngữ, đọc bài diễn văn đầy cảm xúc của mình. Ông Ngữ cúi đầu chân thật: "Tôi xin lỗi với nhân dân, ngàn lần xin lỗi vì không tổ chức được đêm thắp nến tri ân như dự kiến". Ngồi bên dưới, chủ tịch hội khoa học lịch sử TP Đà Nẵng, ông Bùi Văn Tiếng mắt đỏ hoe, liên tục kéo áo lau nước mắt khi bài diễn văn nhắc đến Hoàng Sa ngày 19-1-1974. Nhiều đôi mắt ngấn nước, nhiều ánh mắt tủi hờn, nhiều tiếng thở dài lặng lẽ, anh linh các anh hùng ngày ấy như lặng lẽ quay về. Không ai nói với nhau lời nào nhưng ai cũng biết buổi khai mạc triển lãm trở thành buổi tri ân trong lòng mỗi người khi nhắc đến Hoàng Sa. 

Ký ức như ùa về trong ngày đặc biệt này với các cựu binh VNCH tham chiến Hoàng Sa ngày trước cũng được mời đến tham dự buổi triển lãm này. Các cụ đều đã già, họ bình thản, có lẽ thất thủ lần ấy không phải lỗi của riêng ai, các anh, các chú, các bác đã chiến đấu hết mình. 


Ở buổi hội thảo khoa học “Chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa” tại Khách sạn Hoàng Sa, số 35 - Dương Đình Nghệ, Sơn Trà, Đà Nẵng gồm những chuyên gia đầu ngành về lịch sử, những chuyên viên kỳ cựu trong Ban biên giới Chính phủ, các cựu đại sứ ở các nước trên khắp thế giới qua các thời kỳ. Nhiều tham luận hay, thông tin mới, nhiều cách nhìn vấn đề dưới những góc độ mới được nêu ra nhưng nghe càng hay bao nhiêu thì cảm giác ngậm ngùi càng nhiều bấy nhiêu khi không một nhà báo có mặt. Tất cả, như bão trong chén trà.


Và cuối cùng là vật lưu niệm này của Trung tâm nghiên cứu văn hoá Minh Triết với câu thơ của Trạng Trinh Nguyễn Bỉnh Khiêm: "Biển Đông vạn dặm dang tay giữ. Đất Việt muôn năm vững trị bình". Một cuộc trao đổi nhỏ trên Facebook cuối cùng vẫn không hiểu tại sao Nguyễn Bỉnh Khiêm lại có được những câu như vượt thời gian 500 năm đến vậy.

Thứ Ba, 14 tháng 1, 2014

Thuế tiêu thụ đặc biệt với ô tô- Đã đến lúc cần xóa bỏ.

Được biết các bộ chức năng đang lấy ý kiến về thuết tiêu thụ đặc biệt với ô tô. Xin góp vài ý kiến này.
Ô tô giá rẻ chắc chắn sẽ giúp giảm các vụ tai nạn giao thông chết người và quy hoạch đô thị sẽ dễ mở rộng theo hướng hiện đại hơn.

Thuế tiêu thụ đặc biệt nhằm đánh vào các mặt hàng nhà nước không khuyến khích tiêu dùng như thuốc lá, rượu, bia, điều hoà nhiệt độ, bài lá, hàng vàng mã, kinh doanh vũ trường, xổ số, đánh bài.v.v... và trong đó có ô tô. Có nghĩa là, với chính sách thuế này thì ô tô là mặt hàng hạn chế tiêu dùng còn cao hơn cả rượu bia, thuốc lá và vàng mã, kinh doanh karaoke, casino... Lý do đưa ra, theo quan điểm của Bộ Công Thương, và cũng là quan điểm chính thức của nước ta ngay từ khởi thủy cho đến hiện nay,  thì: “Đây không chỉ đơn thuần là hàng tiêu dùng, mà còn là mặt hàng thuộc dạng xa xỉ và phải chịu thuế tiêu thụ đặc biệt, nghĩa là không được khuyến khích tiêu thụ do cơ sở hạ tầng chưa tốt, đường sá chưa bảo đảm để tạo ra sự thông thoáng của giao thông”. (Theo phát biểu của nguyên thứ trưởng Đỗ Hữu Hào năm 2006).

Nhằm thu ngân sách hay do hạ tầng chưa đủ?
Chưa thấy công trình nghiên cứu nào xác định hạ tầng giao thông như thế nào thì đáp ứng được số lượng ô tô như thế nào. Tất cả chỉ mới dừng ở mức cảm tính là xe máy đã thế thì ô tô chắc hẳn là sẽ còn khủng khiếp hơn nhiều!
Hình dung tỉ lệ ô tô và xe máy

Theo các thông báo của Bộ Giao thông thì tỉ lệ diện tích dành cho giao thông ở ta mới chỉ đạt 10%, trong khi ở các nước láng giềng như Thái Lan, Mã Lai là 20%, vì thế mà hạn chế số lượng ô tô. Thoạt nghe thì có lý, nhưng thực tế thì số lượng ô tô ở ta không phải bằng ½ các nước đó mà ít hơn rất nhiều lần. Theo tính toán trong “Quy hoạch phát triển giao thông vận tải đường bộ Việt Nam” thì so với Indonesia, số lượng xe ô tô ở ta hiện ít hơn 7 lần, nhưng hệ thống giao thông của Indonesia cũng chỉ ở mức cao hơn ta một chút.
Có nghĩa là đường sá ở ta vẫn đủ chỗ cho số lượng ô tô nhiều hơn cỡ 5-7 lần số hiện có.
Vậy tại sao, chỉ với xe máy thôi, ở các thành phố lớn ta đã có cảm giác là không thể nào chịu nổi ?
Tất cả đều nằm ở quan niệm và phương pháp tổ chức giao thông.

Chính bởi vì đi xe máy, tiện đâu ghé đó, tiện đâu quẹo đó nên người ta chẳng bao giờ chịu gởi xe mà đi bộ, đó là chưa nói cứ mỗi lần quẹo như vậy là ẩn chứa bao nhiêu hiểm họa. Cả nhà 3 người, có khi 4 người trên một chiếc xe máy, ai cũng biết là nguy hiểm nhưng không còn lựa chọn nào khác. Hồi chiến tranh trẻ mồ côi nhiều vì cha mẹ bị súng đạn bom mìn, còn hôm nay thì bao trẻ bị mồ côi vì cha mẹ chúng sáng đi rồi chiều không trở về nữa ? Mà chiếc ô tô có đắt đỏ gì lắm cho cam. Nghe nói ở Mã Lai chỉ 3 ngàn đô la Mỹ một chiếc xe Proton, rẻ hơn nhiều chiếc Spacy hồi mới ra 5.000, hoặc @ đến 7.000 đô la Mỹ, và hiện nay chiếc SH đã hơn 10.000 USD. Nếu chính sách về ô tô đúng đắn hơn một chút, tức có giá ô tô rẻ ngang xe máy hiện nay, thì bây giờ Việt Nam ta số lượng ô tô chắc cũng xấp xỉ Indonesia mà đường sá cứ cho là ngang họ thì cũng chưa có gì gọi là “cơ sở hạ tầng chưa tốt, đường sá chưa bảo đảm”.

Và nữa, nếu như Hà Nội và Tp Hồ Chí Minh không đủ đường cho ô tô chạy mà đánh thuế TTĐB thì hà cớ gì không để cho người dân các tỉnh khác, như miền Trung hoặc Tây Nguyên được mua xe chạy ?
Rõ ràng lập luận “cơ sở hạ tầng chưa tốt, đường sá chưa bảo đảm” là một ngụy biện nhằm che dấu cho một mục tiêu khác nào đó trong việc đánh thuế TTĐB với ô tô. Vậy đó là mục tiêu gì? Chưa một người có trách nhiệm nào thực lòng nói lên sự thật nào nhưng chúng ta đều có thể dễ dàng đoán ra mục tiêu nguồn thu ngân sách là mục tiêu chính của loại thuế này.

Thế nhưng, cần nói ngay rằng thuế TTĐB khiến phần lớn, tuyệt đại đa số người dân không thể tiếp cận được thành quả công nghệ của loài người này, và nhà nước trở thành khách hàng chính của các hãng ô tô khi lượng mua xe công bao giờ cũng chiếm tỉ phần lớn. Nếu vậy thì đây quả thực là lấy tiền từ túi phải bỏ qua túi trái chứ nguồn thu ngân sách thực sự vẫn không bao nhiêu, cho dù con số có lớn đến thế nào chăng nữa.

Những thiệt đơn thiệt kép nếu duy trì thuế TTĐB
Sự mâu thuẫn trong chính sách của chính phủ thời gian qua lẽ ra đã phải có người đứng ra chịu trách nhiệm: Muốn phát triển công nghiệp ô tô nhưng lại giới hạn tiêu dùng. Một mâu thuẫn ngô nghê nhưng không hiểu sao lại được áp dụng một cách bất chấp mọi ý kiến đóng góp của các chuyên gia thế giới. Với ngay cả Mỹ hoặc Nhật thì công nghiệp ô tô luôn là ngành công nghiệp mẹ, nó kéo theo hàng loạt ngành công nghiệp khác phát triển từ luyện kim, sắt thép đến, cao su, nhựa, trong đó quan trọng nhất là ngành công nghiệp phụ trợ. Thế nhưng sau bao nhiêu “hoạch định” thì đây vẫn là con số không, tất cả có thể quy về chỗ thuế TTĐB nhằm giới hạn người dùng.

Không sử dụng ô tô người dân dùng xe máy và kèm theo đó là lối sống, tư duy xe máy khiến đô thì trở nên nhếch nhác, nỗ lực thế nào cũng không thay đổi được. Hãy thử hình dung, với người đi xe máy thì bán kính sinh hoạt sẽ giới hạn trong vòng 10km và tư duy đi ngang về tắt, luồn lách, tiện dụng sẽ kéo theo mô hình thương mại sát vỉa hè để phục vụ người đi xe máy. Trong khi đó thì không gian tư duy của người đi ô tô sẽ là 30km, họ sẵn sàng ở xa chỗ làm hơn 30km mà không hề bận tâm, đô thị vì thế mà sẽ dễ dàng mở rộng, kèm theo đó là tác phong ô tô, không đi ngang về tắt, không luồn lách, chịu gửi xe để đi bộ một quãng xa. Rõ ràng với chiếc ô tô việc tổ chức đô thị sẽ dễ dàng theo chuẩn hiện đại hơn nhiều so với xe máy.
Về xây dựng đường sá, chính số lượng ô tô sẽ khiến đầu tư dạng BOT vào cơ sở hạ tầng giao thông trở nên hấp dẫn hơn. Nhà nước sẽ nhẹ gánh hơn nhiều trong việc xây dựng thêm đường giao thông.
Tóm lại, mọi chuyện đều thuộc về chính sách của nhà nước. Một khi thấy ô tô là chưa cần thiết thì nó là chưa cần thiết. Còn khi thấy rằng sau khi áp dụng mọi biện pháp mà con số người chết vì tai nạn giao thông trên dưới 13.000 người mỗi năm vẫn không giảm thì chính sách ô tô cho mỗi người chắc chắn sẽ là lời giải hiệu quả.
Sử dụng ô tô người đi sẽ dẽ chấp hành đi theo luồng và luật giao thông hơn là xe máy


Và trên hết, có lẽ hãy vì chút sĩ diện, đừng để thế giới nhìn ta như một ốc đảo lạc hậu. Tôi không biết Cuba lập luận gì để đánh thuế xe ô tô lên đến 400-500%  khiến người dân phải cố sửa để dùng những chiếc ô tô từ thời 1960. Tôi cũng không biết động cơ sâu xa bên trong chúng ta có giống Cuba hay không nhưng rõ ràng sự giống nhau này khiến chúng ta xấu hổ. Mà đâu phải bỏ thuế TTĐB thì xã hội tê liệt đâu ? Cứ xem như Lào hoặc Campuchia, biết không mơ được chuyện sản xuất xe ô tô nên chính phủ chẳng đánh đồng thuế nào giúp người dân có xe vô cùng rẻ để đi. Có chết ai đâu ?
Hồ Trung Tú

Thứ Năm, 26 tháng 9, 2013

Hữu cú vô cú - 有句無句 của Trần Nhân Tông

Thì ra thời Trần Nhân Tông người ta đã cãi nhau thế nào là CÓ thế nào là KHÔNG rất ghê. Ghé qua các Forum Phật giáo trên mạng thấy nhiều nơi treo hẳn cái bảng: "Miễn bình luận về Bát Nhã", "Mọi bàn luận về Bát Nhã sẽ bị xóa". Hi hi ... ai muỗn cãi nữa nhào zô :)


Chân dung Phật hoàng Trần Nhân Tông trong tranh Túc Lâm đại sĩ xuất sơn chi đồ được vẽ năm 1360

有句無句 Hữu cú vô cú -
Nguyên văn chữ Hán Phiên âm Hán Việt

有句無句,Hữu cú vô cú,
藤枯樹倒。Đằng khô thụ đảo.
幾個衲僧,Kỷ cá nạp tăng,
撞頭嗑腦。Chàng đầu hạp não,

有句無句,Hữu cú vô cú,
體露金風。Thể lộ kim phong.
兢伽沙數,Căng già sa số.
犯刃傷鋒。Phạm nhẫn thương phong.

有句無句,Hữu cú vô cú
立宗立旨。Lập tông lập chỉ.
打瓦鑽龜,Đả ngõa toàn quy,
登山涉水。Đăng sơn thiệp thủy.

有句無句,Hữu cú vô cú,
非有非無。Phi hữu phi vô.
刻舟求劍,Khắc chu cầu kiếm,
索驥按圖。Sách ký án đồ.

有句無句,Hữu cú vô cú,
互不回互。Hỗ bất hồi hỗ.
笠雪鞋花,Lạp tuyết hài hoa,
守株待兔。Thủ chu đãi thố.

有句無句,Hữu cú vô cú,
自古自今。Tự cổ tự kim.
執指忘月,Chấp chỉ vong nguyệt,
平地陸沉。Bình địa lục trầm.

有句無句,Hữu cú vô cú,
如是如是。Như thị như thị.
八字打開,Bát tự đả khai,
全無巴鼻。Toàn vô ba tị.

有句無句,Hữu cú vô cú,
顧左顧右。Cố tả cố hữu.
阿刺刺地,A thích thích địa,
鬧聒聒地。Náo quát quát địa.

有句無句,Hữu cú vô cú,
忉忉怛怛。Điêu điêu đát đát.
截斷葛藤,Tiệt đoạn cát đằng,
彼此快活。Bỉ thử khoái hoạt.
----

DỊCH NGHĨA

Câu hữu câu vô,
Như cây đổ, dây leo héo khô.
Mấy gã thầy tăng,
Đập đầu mẻ trán.

Câu hữu câu vô,
Như thân thể lộ ra trước gió thu.
Vô số cát sông Hằng,
Phạm vào kiếm, bị thương vì mũi nhọn.

Câu hữu câu vô,
Lập công phái, ý chỉ.
Cũng là dùi rùa, đập ngói,
Trèo núi lội sông.

Câu hữu câu vô,
Chẳng phải hữu, chẳng phải vô,
Khác nào anh chàng khắc mạn thuyền mò gươm,
Theo tranh vẽ đi tìm ngựa ký.

Câu hữu câu vô,
Tác động qua lại với nhau.
Nón tuyết giày hoa,
Ôm gốc cây đợi thỏ.

Câu hữu câu vô,
Từ xưa đến nay,
Chỉ chấp ngón tay mà quên vầng trăng,
Thế là chết đuối trên đất bằng.

Câu hữu câu vô,
Như thế như thế!
Tám chữ mở ra rồi,
Hoàn toàn không còn điều gì lớn nữa.

Câu hữu câu vô,
Quay bên phải, ngoái bên trái.
Thuyết lý ầm ĩ,
Ồn ào tranh cãi.

Câu hữu câu vô,
Khiến người rầu rĩ.
Cắt đứt mọi duyên quấn quýt như dây leo,
Thì hữu và vô đều hoàn toàn thông suốt

Chủ Nhật, 8 tháng 9, 2013

Bức tranh quá khứ qua góc nhìn phân kỳ


Liên hệ với nguồn sách địa chí hiện còn như Ô Châu cận lục, Phủ biên tạp lục, Đại Nam nhất thống chí và các tài liệu ký sự mới phát hiện như Quảng Nam phủ tập ký sự, các tư liệu gia tộc như gia phổ, trước thuật…, người đời sau có thể hình dung phần nào diện mạo lịch sử, xã hội, phong tục của nhiều thế kỷ trước ở vùng Trung Trung Bộ hiện nay. Tất cả các nguồn sử liệu đó cùng các thư tịch ngoài nước của Trung Hoa và người Pháp đã giúp Hồ Trung Tú dựng lại bức tranh quá khứ theo cách riêng của mình: Lý giải lịch sử qua góc nhìn phân kỳ, với cuốn “Có 500 năm như thế - bản sắc Quảng Nam từ góc nhìn phân kỳ lịch sử” (*) vừa xuất bản.


Cách phân kỳ lịch sử Nam tiến của Hồ Trung Tú khác với các sử gia Việt trước đó. Ông chú ý đến một số thời điểm đặc biệt và khai thác ý nghĩa của nó: đưa ra một cách phân kỳ để thử xác định ý nghĩa lịch sử và dấu ấn của mỗi giai đoạn mà nó để lại trên mỗi tiến trình lịch sử, qua đó có thể ít nhiều hiểu được, và thử dựng lại những gì đã xảy ra trong suốt 500 năm (từ đám cưới Huyền Trân (năm 1306) đến năm 1802 khi Gia Long lên ngôi. Tác giả đã có những đóng góp mới trong việc “xác định mốc thời gian của mỗi giai đoạn” (tr.11, Sđd) và nói rõ phần đóng góp của mình trong cách phân kỳ: “…Trước đây người ta chỉ nêu lên các mốc thời gian của mỗi sự kiện mà ít để ý đến quãng thời gian giữa hai sự kiện, trong khi điều đó là vô cùng quan trọng để sự tiếp thu, tiếp biến, giao lưu văn hóa diễn ra rồi hình thành và cố định một tính cách bền chắc, không chịu biến đổi trong các giai đoạn sau”.

Trong cuốn sách của mình, Hồ Trung Tú chưa một lần sử dụng từ “ky mi” mà sử xưa dùng để chỉ vùng đất “được cai trị lỏng lẻo” là Thuận Hóa và Quảng Nam (trước khi chúa Nguyễn Hoàng vào Nam), nhưng trong nhận xét về giai đoạn 300 năm (1306-1600) rõ là tác giả đã chú ý đến cái điều mà các sử gia trước đó chưa kịp thể hiện: “300 năm không chính quyền trên một vùng đất nhiều dân tộc mà các dân tộc này đã từng đánh nhau hoặc nhà nước của các dân tộc này đã từng đánh nhau chí tử suốt nhiều trăm năm trước đó. Điều gì đã xảy ra trong suốt 300 năm ấy?” (tr.12). Trên cơ sở 300 năm đó, tác giả đã mở rộng cái nhìn phân kỳ của mình đến 1802 (năm vua Gia Long lên ngôi) để đi đến khái quát “đã có 500 năm đằng đẵng để hoàn thành một cuộc hòa nhập”. Và những mốc của cuộc “hòa nhập khó diễn tả hết” ấy được nêu lên như những “lát cắt lịch sử” mà trong đó lát cắt 1671 phải được ghi nhận như là một phát hiện độc đáo của tác giả. Chính lát cắt “lũy Trường Dục” khiến “Trong, Ngoài bất tương thông” đó đã là cơ sở cho Đàng Trong hình thành một bản sắc rạch ròi tách biệt khỏi những ảnh hưởng của Đàng Ngoài để tự thân hòa nhập với văn hóa bản địa trong quá trình mở rộng về phương Nam. Lát cắt đó cùng những lát cắt lịch sử khác trong khoảng 500 năm đã làm nền cho sự phân kỳ; giúp Hồ Trung Tú có cái nhìn thấu suốt và biện chứng để từ giải các hiện tượng văn hóa, xã hội độc đáo của xứ Đàng Trong - mà thổ âm Quảng Nam là một ví dụ.

Có lẽ, sau 40 năm kể từ khi cuốn “Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam” của Bình Nguyên Lộc ra đời, chưa có một cuốn sách nào thuộc dạng này đã truyền một cảm hứng mạnh mẽ cho người đọc đến vậy. Cảm hứng nhà văn đã khiến cho cuốn sách trở nên hứng thú; nhưng cảm hứng đó cũng là một nhược điểm đối với việc khai thác một vấn đề có tầm “luận án” như thế này. Hồ Trung Tú đã đi vào con đường mà Kim Định, Bình Nguyên Lộc, Nguyễn Văn Xuân… đã từng đi: đó là “trực nhận” và “tiên nghiệm” trước khi cố gắng chứng minh đầy đủ.Dù tự nhận mình người “không chuyên về ngôn ngữ học” và cũng khiêm tốn đưa ra một số dẫn chứng vừa đủ trong rất nhiều sách nghiên cứu về ngôn ngữ mà chắc chắn tác giả phải đọc qua, nhưng những giả thuyết về “nguồn gốc bản sắc tiếng nói từng khu vực xứ Quảng” cùng những giả thiết về “nguồn gốc của những vùng lõm ngôn ngữ đặc biệt” như Cao Lao Hạ, Mỹ Lợi trong ngôn ngữ khu vực Bắc Trung Bộ đã thật sự hấp dẫn người đọc. Những phát hiện và giả thuyết trên giúp tác giả - bất chấp sự dè dặt thông thường - mạnh dạn nêu lên vấn đề sự tự hòa nhập và hòa tan của một bộ phận dân tộc, một nền văn minh với một dân tộc, một nền văn minh khác trong điều kiện đặc thù của “500 năm như thế!”. Tất cả các cố gắng của Hồ Trung Tú từ việc đưa ra các kiến giải về “Vấn đề thế hệ ”, “Vấn đề địa giới”, vấn đề “Người Chàm ở lại”, “Giọng nói người Quảng Nam” rõ là nhằm chứng minh cho điều quan trọng đã nói trên. Dẫn chứng được vận dụng trong thư tịch và từ kết quả điền dã vừa đủ để giúp tác giả chứng minh cho những gì mình đã phát hiện và nêu giả thuyết. 
PHÚ BÌNH

Lưu một bài cũ: Về ngụy biện hối lộ trên đất Phật

https://www.facebook.com/photo.php?fbid=716920411654095&set=a.123338584345617.19846.100000084275576&type=3&ref=notif&notif_t...